Tái phẫu thuật mở túi lệ mũi qua nội soi và phẫu thuật kết mạc - túi lệ - mũi: Từ phân tích nguyên nhân thất bại đến tối ưu hóa kỹ thuật lâm sàng

Bs Ngô Hữu Thế
13.9.26
Last Updated

Tắc ống lệ mũi (Nasolacrimal Duct Obstruction - NLDO) từ lâu đã được quản lý hiệu quả bằng phẫu thuật mở túi lệ mũi (Dacryocystorhinostomy - DCR). Mặc dù phương pháp phẫu thuật đi qua đường ngoài (External DCR) từng được xem là tiêu chuẩn vàng với tỷ lệ thành công rất cao, sự phát triển vượt bậc của công nghệ ghi hình nội soi và dụng cụ phẫu thuật mũi xoang từ cuối những năm 1980 đã đưa phẫu thuật DCR qua đường nội soi (Endoscopic DCR) trở thành lựa chọn hàng đầu. Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều ưu thế vượt trội: không để lại sẹo phẫu thuật trên mặt, bảo tồn triệt để cơ chế bơm cơ vòng mi (orbicularis oculi pump function), giảm thời gian can thiệp và đặc biệt là khả năng can thiệp đồng thời các bất thường giải phẫu hoặc bệnh lý trong hốc mũi.

Tuy nhiên, bất kể lựa chọn phẫu thuật qua đường ngoài hay nội soi, tỷ lệ thất bại của phẫu thuật DCR ban đầu vẫn ghi nhận lên tới 10%. Những bệnh nhân có tiền sử chấn thương tầng giữa mặt, dị tật sọ mặt hoặc đã từng phẫu thuật lệ thất bại đối mặt với nguy cơ tái phát triệu chứng chảy nước mắt (epiphora) rất cao. Khi đứng trước một ca phẫu thuật DCR thất bại, người bác sĩ lâm sàng không thể chỉ đơn thuần lặp lại các thao tác cũ, mà bắt buộc phải nắm vững căn nguyên thất bại thuộc về mặt giải phẫu hay chức năng, từ đó thiết lập chiến lược can thiệp tái phẫu thuật tinh tế và chính xác.

Cơ chế sinh lý bệnh và căn nguyên giải phẫu dẫn đến thất bại phẫu thuật

Thất bại sau phẫu thuật DCR ban đầu được chia thành hai nhóm chính: Thất bại giải phẫu (Anatomic failure) - khi có sự tắc nghẽn vật lý đường thoát lệ; và Thất bại chức năng (Functional failure) - khi bệnh nhân vẫn bị chảy nước mắt kéo dài dù nghiệm pháp kiểm tra cho thấy lỗ mở xương - niêm mạc (neo-ostium) hoàn toàn thông thoáng. Việc phân tích sâu các cơ chế này là chìa khóa để định hướng cho phẫu thuật sửa chữa.

Căn nguyên giải phẫu phổ biến nhất gây thất bại là mở xương không đủ hoặc sai vị trí. Túi lệ nằm trong hố lệ có kích thước khoảng 15 x 10 mm dọc theo đường hàm trên. Nhờ nghiên cứu phân tích X-quang trên tử thi của Wormald và cộng sự (2000), chúng ta hiểu rằng túi lệ nằm cao hơn trên thành ngoài hốc mũi so me với quan điểm truyền thống: đỉnh túi lệ kéo dài lên phía trên cao hơn vị trí bám của cuốn mũi giữa trung bình 8.8 mm và cao hơn điểm vào của lệ quản chung khoảng 5.3 mm. Việc tạo cửa sổ xương quá thấp hoặc quá xa về phía sau sẽ bỏ sót toàn bộ phần trên của túi lệ và điểm lệ quản chung (common internal punctum).

Bên cạnh vị trí, diện tích lỗ mở xương ban đầu đóng vai trò cực kỳ quyết định. Các nghiên cứu tiến cứu đã chứng minh rằng lỗ mở niêm mạc có hiện tượng co rút sinh lý khoảng 35% kích thước, trong đó quá trình co rút diễn ra mạnh nhất trong 4 tuần đầu tiên sau mổ và ổn định sau thời gian này. Nếu cửa sổ xương ban đầu không đủ rộng để bộc lộ toàn bộ hố lệ, sự co rút mô mềm giai đoạn hậu phẫu sẽ nhanh chóng làm lấp kín lỗ mở lệ mũi.

Sẹo xơ niêm mạc (Mucosal scarring) và sự hình thành mô hạt hay dính trong hốc mũi (synechiae) chiếm tới 50% các trường hợp thất bại giải phẫu. Tổn thương quá mức niêm mạc mũi hoặc niêm mạc túi lệ trong lúc phẫu thuật ban đầu chính là ngòi nổ cho phản ứng xơ hóa. Ngoài ra, các biến đổi giải phẫu không được xử lý đồng thời như vẹo vách ngăn mũi, tế bào concha bullosa cuốn giữa, hoặc đặc biệt là tế bào Agger Nasi (nghiên cứu của Liang và cộng sự ghi nhận 95% tế bào Agger Nasi đè lên hố lệ) sẽ che khuất hoặc đè ép trực tiếp gây tắc lỗ mở mới.

Đối với thất bại chức năng, cơ chế thường do tổn thương hệ thống cơ vòng mi hoặc xơ hẹp phần trên của hệ thống lệ đạo. Phẫu thuật DCR đường ngoài có nguy cơ gây tổn thương các nhánh thần kinh mặt chi phối cho cơ vòng mi trong, với tỷ lệ yếu cơ vòng mi tạm thời được ghi nhận là 7.4% (Vagefi và cộng sự). Ngược lại, phẫu thuật nội soi hoàn toàn tránh được tổn thương này. Bên cạnh đó, nếu phẫu thuật ban đầu không xẻ rộng toàn bộ thành trong túi lệ, phần túi lệ còn lại có thể cuộn lại thành dạng "hang" (cavernous shape), tạo ra một túi đọng cản trở dòng chảy tự nhiên của nước mắt.

Bằng chứng lâm sàng và các chỉ số tiên lượng trong tái phẫu thuật nội soi

Các dữ liệu y văn hiện đại khẳng định rằng phẫu thuật DCR tái phẫu thuật qua đường nội soi mang lại tỷ lệ thành công cao vượt trội, dao động từ 79% đến 91%. Mặc dù con số này có phần thấp hơn so với DCR nguyên phát, phẫu thuật nội soi tái tạo vẫn là lựa chọn ưu việt nhất nhờ khả năng tiếp cận trực diện tổn thương mà không tạo thêm sẹo xấu ngoài da.

Tại Đại học Colorado, phân tích trên chuỗi ca tái phẫu thuật DCR nội soi ghi nhận tỷ lệ thành công cải thiện triệu chứng chảy nước mắt đạt 91%, với tỷ lệ thông thoáng giải phẫu đạt tuyệt đối 100% ở thời điểm theo dõi trung bình 37 tháng (Kingdom và cộng sự). Đối với các trường hợp tắc hẹp lệ quản chung nghiêm trọng không thể tái tạo, phẫu thuật kết mạc - túi lệ - mũi (Conjunctivodacryocystorhinostomy - CDCR) đặt ống Jones cho tỷ lệ thành công lâu dài từ 60% đến 91%.

Nguyên nhân thất bại DCR ban đầuCơ chế sinh lý bệnh / Giải phẫuChiến lược xử trí trong tái phẫu thuật nội soi
Mở xương không đủ / Sai vị tríBỏ sót phần cao túi lệ (cách bám cuốn giữa 8.8mm) và điểm lệ quản chung. Co rút lỗ mở 35% trong 4 tuần đầu.Mở rộng cửa sổ xương lên phía trước-trên bằng mũi khoan kim cương (diamond burr), bộc lộ toàn bộ hố lệ và điểm lệ quản chung.
Sẹo xơ niêm mạc & Dính hốc mũiTổn thương niêm mạc diện rộng gây xơ hóa cicatricial (chiếm 50% thất bại), tạo mô hạt hoặc dính cuốn-vách ngăn.Cắt bỏ triệt để mô sẹo, lỏng dính; loại bỏ niêm mạc thừa; cân nhắc áp dụng Mitomycin C (0.2–0.5 mg/mL).
Bệnh lý mũi xoang phối hợpTế bào Agger Nasi đè hố lệ (95%), vẹo vách ngăn, polyp mũi hoặc phì đại cuốn giữa cản trở cơ học.Chỉnh hình vách ngăn, mở tế bào Agger Nasi, đẩy vào trong hoặc cắt bán phần cuốn mũi giữa.
Hẹp lệ quản / Thất bại chức năngChấn thương lệ quản do thông rửa quá mức; túi lệ còn lại dạng hang; nhẽo mi mắt.Mở rộng túi lệ triệt để dạng mở cửa sổ (marsupialization); Đặt ống thông Silicone hoặc tiến hành phẫu thuật CDCR đặt ống Jones.

Thách thức kỹ thuật và những góc nhìn phản biện trong thực hành phẫu thuật

Tái phẫu thuật DCR nội soi đòi hỏi sự tinh tế đặc biệt vì sự biến đổi cấu trúc do sẹo xơ cũ. Việc phẫu bóc tách niêm mạc khỏi thành túi lệ cũ chứa đựng nguy cơ thủng trực tiếp vào thành bên túi lệ hoặc làm tổn thương điểm lệ quản chung. Bác sĩ phẫu thuật nên bắt đầu bóc tách niêm mạc từ phần xương lành phía trước (mỏm trán xương hàm trên) rồi tiến dần ra sau hướng về phía sẹo xơ. Sự phối hợp thì đầu với bác sĩ Nhãn khoa để đưa que thông lệ đạo (lacrimal probe) đẩy phồng (tenting) thành trong túi lệ là một thủ thuật vô cùng đắt giá giúp định vị chính xác túi lệ trong phồng rộp xơ dính.

Một điểm tranh luận kĩ thuật quan trọng trong y văn là việc bảo tồn vạt niêm mạc (mucosal flaps). Mặc dù một số tác giả ủng hộ việc khép vạt niêm mạc mũi - lệ để lành vết thương thì đầu, kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi cho thấy việc loại bỏ sạch sẽ các mép niêm mạc dư thừa và mô xơ cũ, chấp nhận lành vết thương thì hai, lại giúp ngăn ngừa hiệu quả hiện tượng tạo màng dính (webbing) và tái hẹp lỗ mở.

"Trong tái phẫu thuật DCR nội soi, chìa khóa không nằm ở việc cố gắng bảo tồn những cấu trúc niêm mạc đã biến dạng, mà nằm ở khả năng bộc lộ rộng rãi nền xương, giải phóng hoàn toàn mô sẹo quanh điểm lệ quản chung và tạo lập một hố dẫn lưu phẳng, tối thiểu hóa xương lộ."

Về các liệu pháp hỗ trợ, việc ứng dụng Mitomycin C (MMC) – một chất kháng chuyển hóa ức chế tổng hợp DNA – đã được chứng minh qua các phân tích gộp (meta-analysis) là giúp gia tăng đáng kể tỷ lệ thông thoáng trong tái phẫu thuật DCR nhờ ngăn chặn mô hạt và sẹo xơ. Dù liều lượng (0.2 đến 0.5 mg/mL) và thời gian áp (2 đến 15 phút) chưa có chuẩn hóa tuyệt đối, MMC là vũ khí rất giá trị ở những bệnh nhân có cơ địa xơ hóa mạnh hoặc mắc bệnh lý tự miễn (như Sarcoidosis, Granulomatosis with polyangiitis). Ngược lại, việc đặt ống thông Silicone (stent) không nên thực hiện quy chuẩn cho mọi trường hợp do nguy cơ hình thành biofilm gây nhiễm trùng và kích thích tạo mô hạt, mà nên bảo tồn cho các ca có hẹp lệ quản chung.

Khuyến cáo thực hành lâm sàng cho bác sĩ nhãn khoa và tai mũi họng

  • Đánh giá toàn diện trước mổ: Luôn kết hợp nội soi mũi xoang và thăm dò lệ đạo kỹ lưỡng để phân loại chính xác thất bại do giải phẫu hay chức năng. Bắt buộc chụp CT mũi xoang nếu nghi ngờ có viêm xoang mãn tính hoặc bất thường cấu trúc xương nghiêm trọng.
  • Bộc lộ xương rộng rãi và chính xác: Đảm bảo cửa sổ xương mới phải mở rộng lên phía trên điểm bám cuốn mũi giữa để giải phóng hoàn toàn đỉnh túi lệ và bộc lộ rõ ràng điểm lệ quản chung. Bắt buộc dùng mũi khoan kim cương tưới nước liên tục để gọt nhẵn bờ xương.
  • Cắt mở túi lệ triệt để (Marsupialization): Xẻ rộng toàn bộ thành trong túi lệ, loại bỏ triệt để các mép niêm mạc xơ chai dư thừa nhằm tránh hiện tượng cuộn túi lệ dạng hang hay tạo màng dính hậu phẫu.
  • Phối hợp liên chuyên khoa Nhãn khoa - Tai Mũi Họng: Duy trì sự hợp tác chặt chẽ trong cuộc mổ (sử dụng que thông lệ đạo định vị) và trong quá trình theo dõi hậu phẫu (nội soi làm sạch hốc mũi ở tuần 1, 4, 12 kết hợp điều chỉnh ống thông) để đảm bảo kết quả tối ưu dài lâu.

Tài liệu tham khảo:

Farrell, N. F., Hink, E., & Kingdom, T. T. (2021). Revision Endoscopic Dacryocystorhinostomy and Conjunctivodacryocystorhinostomy. In Endoscopic Surgery (pp. 105–112).

Xem thêm