Nghệ thuật khôi phục giải phẫu và chức năng mi mắt: Từ rách bờ mi, tổn thương cơ nâng mi đến chấn thương lệ quản

Bs Ngô Hữu Thế
19.8.26
Last Updated

Chấn thương mi mắt và hệ thống lệ đạo là một trong những tình huống cấp cứu nhãn khoa thường gặp nhưng đòi hỏi sự tinh tế vượt trội về cả kỹ năng lẫn tư duy giải phẫu. Mi mắt không đơn thuần là một lớp da che chắn nhãn cầu mà là một cấu trúc động phức tạp, gồm nhiều tầng mô liên kết phối hợp nhịp nhàng để bảo vệ bề mặt nhãn cầu và duy trì chức năng thị giác. Một vết rách xuyên thành mi mắt không được tái tạo chuẩn xác có thể dẫn đến biến dạng bờ mi, lộn mi, trễ mi, hở mi gây khô mắt nặng, hoặc tổn thương cơ nâng mi dẫn đến sụp mi vĩnh viễn.

Trong thực hành lâm sàng, phẫu thuật viên thường đứng trước những thử thách khó khăn: làm thế nào để khép kín một khuyết hổng mi lớn khi thiếu hụt mô, làm sao nhận diện chính xác đầu đứt của cơ nâng mi giữa các lớp mô dập nát, hay xử trí tổn thương lệ quản ra sao để tránh tắc hẹp lệ đạo thứ phát? Sự thấu hiểu tường tận nguyên lý phân tầng giải phẫu và các kỹ thuật phẫu thuật tái tạo kinh điển chính là chiếc chìa khóa vạn năng giúp người thầy thuốc nhãn khoa phục hồi trọn vẹn cả chức năng lẫn thẩm mỹ cho người bệnh.

Nền tảng giải phẫu phân tầng và nguyên lý bảo tồn chức năng mi mắt

Để phẫu thuật tái tạo mi mắt đạt thành công tối ưu, phẫu thuật viên bắt buộc phải nắm vững khái niệm hai lá giải phẫu (lamellae) của mi mắt. Lá trước (anterior lamella) bao gồm da và cơ vòng mi (orbicularis oculi). Lá sau (posterior lamella) bao gồm sụn mi (tarsal plate) và kết mạc mi. Bờ mi chính là mốc giải phẫu ranh giới, nơi đường xám (gray line) đóng vai trò là cột mốc phân chia lá trước và lá sau, đồng thời là đường chỉ dẫn vô giá để căn chỉnh phẳng tuyệt đối bờ mi trong khâu phục hồi.

Đối với tổn thương mi trên, mối quan hệ giải phẫu sâu tầng ở vị trí cách bờ trên sụn mi 4 mm là vô cùng cốt lõi. Từ ngoài vào trong, các lớp giải phẫu lần lượt gồm: (1) Da, (2) Cơ vòng mi trước vách, (3) Vách nhãn cầu (septum orbitalis), (4) Mỡ trước cân (preaponeurotic fat), (5) Cơ nâng mi (levator palpebrae superioris), (6) Cơ Müller, và (7) Kết mạc. Trong số các cấu trúc này, lớp mỡ trước cân chính là mốc giải phẫu "vàng". Do nằm ngay trước cân cơ nâng mi, sự xuất hiện hoặc lộ ra của mỡ trước cân trong vết thương mi trên là bằng chứng khẳng định có sự tổn thương phức hợp cơ nâng mi cho đến khi có bằng chứng ngược lại thông qua thăm dò phẫu thuật.

Ở góc trong mi mắt, hệ thống dẫn lưu lệ đạo (gồm điểm lệ và lệ quản) chạy song song bờ mi khoảng 2 mm trước khi đổ vào túi lệ. Chấn thương đứt lệ quản thường xảy ra do lực xé trực tiếp hoặc lực giằng xé góc trong. Việc phục hồi sự liên tục của lệ quản đòi hỏi phải đặt ống thông (stent) làm nòng để ngăn ngừa hẹp dính lòng ống trong quá trình lành sẹo.

Chiến lược can thiệp phẫu thuật theo mức độ tổn thương

Quy trình xử trí chấn thương mi mắt và lệ đạo đòi hỏi sự phân loại chính xác mức độ thiếu hụt mô và cấu trúc bị ảnh hưởng để lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp.

Đối với vết rách xuyên bờ mi khuyết hổng nhỏ (< 40%), kỹ thuật khâu bờ mi 3 mũi (3-suture technique) là lựa chọn tiêu chuẩn. Nguyên lý là phải đạt được sự lộn nhẹ bờ vết thương (eversion) để bù trừ cho sự co rút sẹo sau mổ, tránh tạo nếp lõm ở bờ mi. Sụn mi được căn chỉnh song song tuyệt đối và khâu bằng chỉ tiêu chậm Vicryl 6-0 vắt vạt bán phần (không xuyên qua kết mạc để tránh cọ xát giác mạc). Chỉ bờ mi (thường là silk 6-0) được đính vào mũi khâu da phía trước để tránh đầu chỉ cọ vào bề mặt nhãn cầu.

Khi khuyết hổng bờ mi từ 15% đến 40% có sức căng lớn, phẫu thuật viên cần thực hiện mở góc mắt ngoài và cắt dây chằng góc mắt ngoài (Canthotomy & Cantholysis). Việc giải phóng trụ dưới của dây chằng góc mắt ngoài giúp huy động mi mắt di chuyển vào trong thêm tới 5 mm, giúp đóng vết thương không căng.

Khi khuyết hổng mi lớn (> 40%), các vạt trượt hoặc vạt tái tạo phức tạp được chỉ định:

  • Vạt bán tròn Tenzel (Tenzel Semicircular Advancement Flap): Phù hợp cho cả mi trên và mi dưới. Tạo vạt da-cơ bán tròn xoay từ góc mắt ngoài, kết hợp cắt dây chằng góc mắt ngoài để di chuyển mô khép kín khuyết hổng. Lá sau của mi mới được tái tạo bằng cách tiến vạt kết mạc hoặc ghép niêm mạc miệng/màng ối.
  • Vạt sụn kết mạc Hughes (Hughes Tarsoconjunctival Flap): Lựa chọn hàng đầu cho khuyết hổng mi dưới lớn > 40%. Sử dụng vạt sụn-kết mạc từ mi trên chuyển xuống làm lá sau, kết hợp vạt da trượt hoặc ghép da toàn bộ độ dày làm lá trước. Đây là phẫu thuật 2 thì, vạt sẽ được cắt mở sau 2 đến 12 tuần.

Đối với tổn thương đứt cân cơ nâng mi, phẫu thuật nên thực hiện dưới gây tê tại chỗ phối hợp tiền mê nhẹ khi tình trạng sưng nề giảm (thường trong 48 - 72 giờ). Việc gây tê tại chỗ giúp bệnh nhân có thể hợp tác mở mắt, nhìn lên/nhìn xuống trong khi phẫu thuật để phẫu thuật viên đánh giá chính xác độ cao mi và đường cong bờ mi. Đầu đứt cơ nâng mi được khâu phục hồi vào bờ trên sụn mi bằng chỉ không tiêu 5-0 hoặc 6-0 (như Silk hoặc Polypropylene).

Đối với chấn thương đứt lệ quản, phẫu thuật phục hồi bao gồm việc tìm đầu đứt xa của lệ quản dưới kính hiển vi phẫu thuật, luồn ống thông silicone (Mini Monoka, Monoka, hoặc Mono-Crawford) qua điểm lệ vào túi lệ, sau đó khâu áp hai đầu lệ quản bằng chỉ Vicryl 7-0 quanh ống thông. Ống thông thường được duy trì ít nhất 6 tuần đến vài tháng.

Loại tổn thương / Khuyết hổngPhương pháp phẫu thuật tối ưuVật liệu khâu / Ống thôngYếu tố kỹ thuật then chốt
Rách bờ mi trực tiếp (< 40%)Khâu bờ mi 3 mũi (3-suture technique)Sụn: Vicryl 6-0
Bờ mi: Silk 6-0
Da: Gut / Plain 6-0
Khâu sụn bán phần (tránh lộ chỉ kết mạc); tạo độ lộn bờ mi (eversion) chống lõm sẹo.
Khuyết mi 15 - 40% (sức căng cao)Cắt góc mắt & Cắt dây chằng góc mắt ngoài (Canthotomy & Cantholysis)Tương tự khâu bờ mi; tái tạo góc mắt ngoài bằng Vicryl 5-0 / Plain 6-0Giải phóng trụ dưới dây chằng góc mắt ngoài giúp di chuyển bờ mi vào trong tối đa 5 mm.
Khuyết mi lớn (> 40%) mi dưới/trênVạt bán tròn Tenzel / Vạt sụn kết mạc Hughes (mi dưới)Sụn/Vạt: Silk/Vicryl 6-0
Kết mạc: Vicryl 7-0
Góc mắt: Vicryl 5-0
Phải tái tạo đủ 2 lá (lá trước da-cơ, lá sau sụn-kết mạc); cố định vạt vào màng xương góc ngoài.
Tổn thương Cân cơ nâng miThăm dò & Đỉnh vị lại cân cơ nâng mi vào sụn miSilk 5-0 / 6-0 hoặc Polypropylene 5-0/6-0Mỡ trước cân là mốc tìm cơ; KHÔNG KHÂU VÁCH NHÃN CẦU; chỉnh độ cao mi theo ánh mắt bệnh nhân.
Đứt Lệ quản (Thường mi dưới)Đặt ống thông lệ quản + Khâu nối đầu đứt kề nhauỐng Mini Monoka / Mono-Crawford;
Khâu quanh lệ quản: Vicryl 7-0
Dùng kính hiển vi/loupe phóng đại tìm đầu đứt xa; lưu ống thông tối thiểu 6 tuần.

Những cạm bẫy lâm sàng và phân tích chuyên sâu từ thực hiển phẫu thuật

Trong phẫu thuật tạo hình mi mắt và lệ đạo, sai lầm về mặt kỹ thuật thường trả giá bằng những biến chứng rất khó khắc phục. Một trong những cạm bẫy phổ biến nhất khi khâu sụn mi là để lọt lặp chỉ khâu sang phía kết mạc. Lớp chỉ khâu xuất hiện ở mặt dưới mi sẽ hoạt động như một vật thể lạ liên tục cọ xát vào biểu mô giác mạc mỗi khi bệnh nhân chớp mắt, gây trợt giác mạc, loét giác mạc hoặc kích thích co quắp mi (blepharospasm). Co quắp mi kéo dài lại tạo sức căng lặp đi lặp lại lên vết thương mi vừa khâu, dẫn đến bục vết mổ (dehiscence).

Một sai lầm nghiêm trọng khác trong xử trí chấn thương mi trên là vô tình khâu đóng vách nhãn cầu (orbital septum). Vách nhãn cầu là cấu trúc xơ ranh giới giữa hốc mắt và mi mắt. Khi bị khâu đóng hoặc bị khâu dính vào cân cơ nâng mi/sụn mi, sự co rút sẹo của vách nhãn cầu sẽ làm hạn chế di động của mi mắt, gây ra chứng hở mi (lagophthalmos) nghiêm trọng và co rút mi trên. Vách nhãn cầu phải luôn được để hở tự do tự phục hồi.

"Nguyên tắc vàng trong phẫu thuật vết thương mi mắt sâu là: Tuyệt đối không khâu đóng vách nhãn cầu. Hãy để lớp mỡ trước cân đóng vai trò như một chất bôi trơn sinh học tự nhiên, ngăn ngừa sự dính sẹo bất thường giữa cân cơ nâng mi, vách nhãn cầu và lớp da bên trên."

Đối với tổn thương cơ nâng mi, việc khâu kéo quá mức cơ nâng mi xuống dưới để bù trừ sụp mi ban đầu thường dẫn đến biến chứng trợn mi (overcorrection) và hở mi sau mổ. Ngược lại, nếu chỉ đánh giá độ sụp mi dựa trên mắt sưng nề trong giai đoạn cấp tính dưới gây mê toàn thân, nguy cơ sót tổn thương hoặc chỉnh thiếu là rất cao. Do đó, việc hoãn phẫu thuật từ 48-72 giờ để giảm sưng, phẫu thuật dưới gây tê tại chỗ kết hợp thử nghiệm vận động nhãn cầu chủ động của bệnh nhân là giải pháp giúp kiểm soát tối ưu chiều cao và đường cong mi mắt.

Đối với chấn thương lệ quản, cạm bẫy lớn nhất là không tìm thấy đầu đứt xa (distal cut end). Việc cố gắng bới móc mô dập nát sẽ làm tổn thương thêm niêm mạc lệ quản còn lại. Cần áp dụng các thủ thuật hỗ trợ như bơm rửa chất màu (fluorescein), bơm khí dưới nước, hoặc dùng que dò đuôi lợn (pigtail probe) đi ngược dòng từ lệ quản đối diện một cách nhẹ nhàng để định vị cấu trúc.

Ghi nhớ lâm sàng cho phẫu thuật viên

  • Căn chỉnh bờ mi chính xác tuyệt đối: Sử dụng đường xám và hàng lông mi làm mốc căn chỉnh; luôn tạo độ lộn nhẹ (eversion) bờ vết thương khi khâu bờ mi để bù trừ co rút sẹo.
  • Bảo vệ giác mạc triệt để: Các mũi khâu sụn mi (Vicryl 6-0) phải là mũi khâu bán phần, không bao giờ lộ ra ở mặt kết mạc. Đính các đầu chỉ bờ mi vào nút khâu da phía trước.
  • Tôn trọng vách nhãn cầu: Không bao giờ khâu đóng vách nhãn cầu khi phục hồi mi mắt sâu. Giữ lại lớp mỡ trước cân để làm lớp đệm chống dính giữa cơ nâng mi và các mô nông.
  • Đánh giá cơ nâng mi trong điều kiện chủ động: Nhận biết mỡ trước cân là mốc tìm cơ nâng mi. Ưu tiên phẫu thuật dưới gây tê tại chỗ để yêu cầu bệnh nhân nhìn lên/nhìn xuống giúp chỉnh chính xác độ cao và đường cong mi. Phán đoán sụp mi tồn dư phải chờ tối thiểu 6 tháng trước khi quyết định can thiệp lại.
  • Canh giữ sự thông suốt của lệ quản: Mọi vết rách đoạn trong mi mắt cần được loại trừ tổn thương lệ quản. Khi đứt lệ quản, bắt buộc phải đặt ống thông (stent) làm nòng và duy trì tối thiểu 6 tuần để ngăn ngừa hẹp dính lệ đạo.

Tài liệu tham khảo:

Levine MR, Fountain TR. Eyelid Laceration and Lid Defects / Management of Canalicular Trauma. In: Manual of Oculoplastic Surgery. 4th ed. SLACK Incorporated; 2010:29-38.

Xem thêm