Hiệu quả giải phẫu và độ an toàn của phẫu thuật chỉnh hình tuần tự sớm ở bệnh nhi mắc hội chứng Blepharophimosis: Nghiên cứu so sánh trước và sau 24 tháng tuổi

Bs Ngô Hữu Thế
3.8.26
Last Updated

Bối cảnh và Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu đánh giá kết quả hình thái và độ an toàn của phẫu thuật chỉnh hình tuần tự hai giai đoạn (tạo hình góc mắt trong Y-V và treo cơ trán bằng silicon) ở 20 bệnh nhi mắc hội chứng BPES. Cỡ mẫu bao gồm 11 bệnh nhân (55%) dưới 24 tháng tuổi và 9 bệnh nhân (45%) trên 24 tháng tuổi. Tiêu chuẩn nhận vào bao gồm sụp mi nặng (MRD1 ≤1 mm), chức năng cơ nâng mi kém, tắc nghẽn trục thị giác hoặc tư thế đầu bù trừ ≥20 độ.

Kết quả lâm sàng trọng tâm

Sau 6 tháng theo dõi, tất cả các thông số hình thái đều cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0.001). Tỷ lệ thành công phẫu thuật (IICD/HPFL <1.3) đạt 95%. Không có sự khác biệt đáng kể về kết quả giữa nhóm dưới 24 tháng và nhóm trên 24 tháng tuổi (p > 0.05).

Thông sốTrước phẫu thuậtSau 6 thángp-value
Tỷ lệ IICD/HPFL1.82 ± 0.231.13 ± 0.08<0.001
VPFL (mm)3.92 ± 0.718.22 ± 0.44<0.001
MRD1 (mm)0.45 ± 0.914.17 ± 0.40<0.001

Bài học thay đổi thực hành (Take-home Message)

  • Phẫu thuật chỉnh hình tuần tự sớm (trước 24 tháng) là khả thi và an toàn ở những bệnh nhi mắc BPES có chỉ định rõ ràng như tắc nghẽn trục thị giác hoàn toàn.
  • Kết quả giải phẫu ở trẻ nhỏ tương đương với trẻ lớn hơn, thách thức quan điểm truyền thống về việc trì hoãn phẫu thuật đến 3-5 tuổi.
  • Cần cân nhắc kỹ lưỡng gánh nặng gây mê tích lũy (trung bình 80 ± 12 phút) khi thực hiện phẫu thuật hai giai đoạn ở trẻ rất nhỏ.
  • Biến chứng độ I xảy ra ở 25% trường hợp và đều được xử trí bảo tồn thành công.

Tài liệu tham khảo:

Yılmaz IE, Doğan S, Doğan L, Kara N, Arı Ş. Sequential correction of blepharophimosis syndrome: comparison of anatomical outcomes for surgery before and after 24 months of age. J AAPOS. 2026;30:104852. doi: 10.1016/j.jaapos.2026.104852.

(Tệp gốc: 1-s2.0-S1091853126001254.pdf)

Xem thêm