Phân tích các tổn thương nhãn khoa và tiên lượng thị lực dài hạn trong chấn thương đầu do ngược đãi ở trẻ em

Bs Ngô Hữu Thế
3.8.26
Last Updated

Bối cảnh và Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu này nhằm mục đích xác định các đặc điểm tổn thương nhãn khoa, hệ thống và các yếu tố dự báo tiên lượng thị lực cũng như sự phát triển thần kinh dài hạn ở trẻ em bị chấn thương đầu do ngược đãi (Abusive Head Trauma - AHT). Đối tượng nghiên cứu bao gồm 38 bệnh nhi được chẩn đoán AHT tại Children’s Medical Center Dallas từ năm 2006 đến 2022, với tiêu chuẩn nhận vào là có hội chẩn nhãn khoa, phát hiện tổn thương mắt và xác định có nguy cơ cao bị ngược đãi. Dữ liệu được phân tích bằng hồi quy logistic và kiểm định Fisher với mức ý nghĩa thống kê p < 0.05.

Kết quả lâm sàng trọng tâm

Tất cả bệnh nhân đều có tụ máu dưới màng cứng trên chẩn đoán hình ảnh. Các tổn thương nhãn khoa phổ biến nhất bao gồm xuất huyết trong võng mạc (91%) và xuất huyết trước võng mạc (67%).

Biến sốKết quả chínhÝ nghĩa thống kê
Teo gai thị (Disk pallor)Dự báo suy giảm thị lực trung bình đến nặngp < 0.001
Gãy xương sọ/xương dàiLiên quan đến thị lực kémp < 0.05
Phẫu thuật cắt dịch kínhKhông cải thiện thị lực so với theo dõip > 0.05
Phù nãoLiên quan đến co giậtp = 0.032

Bài học thay đổi thực hành (Take-home Message)

  • Teo gai thị, gãy xương sọ và gãy xương dài là các chỉ số dự báo độc lập cho tiên lượng thị lực kém ở bệnh nhi AHT.
  • Phẫu thuật cắt dịch kính trong AHT không cho thấy sự cải thiện đáng kể về thị lực dài hạn so với điều trị bảo tồn, có thể do các yếu tố gây nhiễu từ mức độ tổn thương ban đầu.
  • Cần thực hiện đánh giá nhãn khoa định kỳ và đa chuyên khoa để theo dõi sự phát triển của teo gai thị, vì tổn thương này thường không xuất hiện cấp tính mà tiến triển theo thời gian.
  • AHT cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt ở mọi trẻ nhỏ có biểu hiện co giật, chậm phát triển, nôn mửa hoặc hôn mê không rõ nguyên nhân.

Tài liệu tham khảo:

Huang C, Low A, Zaidi Z, He YG, Wang AL. Ocular findings and long-term outcomes in pediatric abusive head trauma. J AAPOS. 2026;30:104863. doi: 10.1016/j.jaapos.2026.104863.

(Tệp gốc: 1-s2.0-S1091853126001369.pdf)

Xem thêm